Chia sẻ kinh nghiệm thực hiện dự án T-Learning tại Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Kiên Giang A A

07/11/2018
VP. BQL Khu Dự trữ sinh quyển Thế giới Kiên Giang

I. TỔNG QUAN

Khu Dự trữ sinh quyển Thế giới Kiên Giang (DTSQKG) thuộc tỉnh Kiên Giang được UNESCO công nhận năm 2006, là một trong 9 Khu DTSQ Thế giới tại Việt Nam. Hiện nay, trên thế giới có 699 khu dự trữ sinh quyển thuộc 122 quốc gia, tất cả đều được thiết kế phân vùng, thực hiện 3 chức năng (bảo tồn, phát triển và hỗ trợ) theo 7 tiêu chí của UNESCO/MAB. Khu DTSQKG có tổng diện tích 1,188,106 ha, với hơn 700 ngàn người dân. Ba vùng lõi (36.936) của Khu DTSQKG này là Vườn Quốc gia (VQG) Phú Quốc, VQG U Minh Thượng và Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Chông, bao quanh và kết nối cả 3 vùng lõi với nhau là vùng đệm rộng lớn 172.578 ha và ngoài cùng là vùng chuyển tiếp 978.592 ha. Sự phân vùng chức năng khu DTSQ tạo ra một không gian địa lý và không gian kết nối cho T-Learning, tạo nên một không gian rộng lớn là điều kiện cho sự thể hiện các kết nối cả về yếu tố tự nhiên cũng như kinh tế, văn hóa, lịch sử và xã hội. Các kết nối, tế bào mầm và khả năng sử dụng cho học tập chuyển đổi.

Trong bối cảnh Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã trở thành thách thức lớn nhất của nhân loại và thế giới toàn cầu hóa và khi mối quan tâm phát triển bền vững về chuỗi liên quan đến BĐKH đang ngày một gia tăng, thì việc tăng cường các quá trình học tập chuyển hóa nhằm mục tiêu phát triển bền vững ở những nước và những vùng lãnh thổ chịu sự tác động mạnh của BĐKH toàn cầu đã trở thành một thách thức. Tuy nhiên, cho đến nay người ta còn biết chưa nhiều và đầy đủ về các quá trình và kiểu loại của học tập chuyển hóa, đặc biệt là ở những nơi xuất hiện các “vấn đề tồi tệ” (wicked problems) trong các chuỗi “khí hậu - nước - an ninh lương thực - năng lượng - công bằng xã hội” (climate – water - food sucurity – energy - social justice). Trong bối cảnh đó, dự án nghiên cứu mang tên “Transgessive Social Learning for Social-Ecological Substainability in Times of Climate Change (T-Learning)” (gọi tắt là Dự án ISSC về T-Learning) đã được ISSC (International Social Science Committee = Ủy ban Khoa học – Xã hội Thế giới) của UNESCO Paris chấp nhận và tài trợ để thực hiện trong 3 năm 2016-2018. Trong đó Việt Nam là một trong 09 nước (Ấn Độ, Columbia, Ethiopia, Hà Lan Malawi, Nam Phi, Thụy Điển, Việt Nam và Zimbabwe) được lựa chọn để thực hiện dự án trong tổng số 196 nước trên thế giới. Khu DTSQKG là 1 trong 02 địa điểm của Việt Nam được lựa chọn để thực hiện Dự án nghiên cứu này.

Dự án nghiên cứu ở Kiên Giang mang tên “Dự án học tập chuyển đổi (T-Learning) tại Khu DTSQKG”. Mục đích của Dự án là tìm hiểu bối cảnh thực tế với những bài học kinh nghiệm thành công cũng như thất bại trong việc xử lý các mối tương tác giữa 5 nhân tố cơ bản: lương thực - nước - năng lượng - khí hậu và công bằng xã hội ở Khu DTSQKG. Sau đó đưa vào các hoạt động giáo dục chính quy và phi chính quy, truyền thống và phi truyền thống trong giáo dục vì phát triển bền vững tạo ra một diễn đàn học tập xã hội trong Khu DTSQKG, từ đó tạo nên một sự chuyển biến cho toàn xã hội trong sự nghiệp phát triển bền vững. Việc chọn lựa Khu DTSQKG là điểm thực nghiệm triển khai mô hình học tập chuyển đổi cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bởi vì Khu DTSQKG chứa đựng hầu hết các đặc điểm chung của ĐBSCL như có 07 hệ sinh thái đặc trưng cho vùng nhiệt đới, có độ đa dạng sinh học cao, người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao và có nền nông nghiệp đặc trưng cho vùng ĐBSCL. Bên cạnh đó, việc chọn lựa Khu DTSQKG còn đáp ứng nhu cầu của địa phương, quốc gia đồng thời đóng góp vào Dự án ISSC vể T-Learning quốc tế về thực hiện mô hình “học tập xã hội” cho một tương lai bền vững.

II. CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Tiếp cận SLIQ (Tư duy hệ thống, qui hoạch cảnh quan, điều phối liên ngành, kinh tế chất lượng): Toàn bộ khu DTSQ được xem như một hệ thống bao gồm các thành phần tự nhiên, văn hóa, kinh tế, xã hội, lịch sử, truyền thống tri thức bản địa, tất cả các hợp phần này tác động qua lại lẫn nhau tạo nên một mạng lưới tương tác phức tạp, bản thân công tác quản lý là một sự điều phối hài hòa các hợp phần dựa trên một không gian địa lý rộng lớn tạo điều kiện cho không gian kết nối thể hiện dưới sự điều phối của không gian tư duy hệ thống sáng tạo.

- Tiếp cận liên ngành, đa lĩnh vực: Một chu trình 5 bước, tất cả các bước đều do cộng đồng tham gia và thảo luận bao gồm các cuộc thảo luận chuyên gia, các cán bộ quản lý, một cuộc thảo luận có các đại diện các ban, ngành: Tài nguyên và Môi trường; Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Văn hóa và Thể thao; Du lịch, các Hiệp hội du lịch; Hội phụ nữ; Hội cựu chiến binh,.. dưới sự điều hành và hướng dẫn thảo luận của UBQG MAB Việt Nam, Sở Khoa học và Công nghệ, BQL Khu DTSQ Kiên Giang. Công việc được xây dựng bắt đầu từ bước đặt vấn đề, xác định vấn đề dựa trên phân tích bối cảnh, sau đó đề xuất và lựa chọn ưu tiên các mối quan hệ (nexus) để từ đó tìm ra các mô hình thành công cũng như thất bại trong việc kết nối các hợp phần, từ đó cũng tìm ra các điểm tế bào mầm ‘germ cell’ để đưa vào làm các thể nghiệm sử dụng sau này. Hầu hết các câu hỏi điều tra khảo sát được thu thập và phân tích từ các dự án có trước của các tổ chức trong nước và quốc tế (GIZ, AusAID, UNESCO,…).

III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Tình hình BĐKH và tác động tại khu vực nghiên cứu

Cũng như các tỉnh ven biển trong khu vực ĐBSCL, Kiên Giang cũng chịu tác động tiêu cực nhiều mặt của BĐKH và nước biển dâng, các thay đổi trong những năm gần đây ngày càng theo chiều hướng bất lợi: mưa, lũ, bão bất thường, nhiệt độ ngày càng có xu hướng gia tăng, hạn hán, xâm nhập mặn lan rộng tại các vùng ven biển, ảnh hưởng của xói lở bờ biển, suy thoái rừng ngập mặn, suy giảm đáng kể nguồn lợi thủy sản trên biển, suy giảm đa dạng sinh học,…

Bên cạnh tác động của BĐKH và nước biển dâng, việc sử dụng tài nguyên nước ở phía thượng nguồn Sông Mê Kông nhất là tình hình phát triển các công trình thủy điện đã gây áp lực lớn cho vùng ĐBSCL, nguyên nhân của sự thay đổi lớn, bất thường về lưu lượng và khó khăn trong điều tiết nước vào mùa lũ, rõ rệt nhất là vấn đề khô hạn và nhiễm mặn của năm 2010 đã gây thiệt hại hầu hết diện tích lúa Đông Xuân (2010-2011) của các huyện ven biển tỉnh Kiên Giang và lũ dữ của năm 2011 đã gây khó khăn, thiệt hại to lớn đến đời sống, sản xuất của nhiều nông dân giáp vùng Tứ giác Long Xuyên và một số khu vực thuộc vùng Tây Sông Hậu. Đặc biệt theo báo cáo của Sở NN&PTNT tỉnh Kiên Giang thì nước mặn từ biển theo sông Cái Lớn xâm nhập sâu vào trong nội đồng hơn 20 km, độ mặn lên đến 13‰ cao hơn so với cùng kỳ, đã gây thiệt hại cho trên 36.000 ha lúa Đông Xuân 2015-2016. 

BĐKH ở khu vực ĐBSCL là cực kỳ phức tạp, hậu quả liên quan nhiều vấn đề về thiên tai, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh, nhiễm mặn, nhiễm phèn, cháy rừng, ô nhiễm môi trường, thiếu nước sạch,… Theo điều kiện của Kiên Giang, nước biển dâng sẽ tác động mạnh, uy hiếp đê điều, cống đập, tác động lên đa dạng sinh học các dãy rừng phòng hộ ven biển, suy giảm đa dạng sinh học, loài - sinh cảnh, đe dọa hoạt động sản xuất nông nghiệp, nuôi, trồng và khai thác thủy sản,… ảnh hưởng mạnh đến phát triển du lịch của tỉnh.

                                   Hình 1: Khu vực trước đây bị xói lở                                                                                     Hình 2: Hiện trạng sau 2 năm phục hồi RNM 

3.2. Các mô hình học tập chuyển đổi để phát triển sinh kế thích ứng

Khu DTSQ tạo không gian thực hiện T-Learning: Sự phân vùng chức năng Khu DTSQ tạo ra một không gian địa lý và không gian kết nối cho T-Learning: Mỗi Khu DTSQ nói chung và Khu DTSQKG nói riêng đều được phân ra 3 vùng chức năng: vùng lõi, vùng đệm và vùng chuyển tiếp. Sự phân vùng này tạo nên một không gian rộng lớn tạo điều kiện cho sự thể hiện các kết nối cả về các yếu tố tự nhiên cũng như kinh tế, văn hóa, lịch sử và xã hội. Các kết nối, tế bào mầm và khả năng sử dụng cho học tập chuyển đổi được mô tả như sau:

3.2.1 Trồng, chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng

- Các mối quan hệ: Đa dạng sinh học - BĐKH - Công bằng xã hội.

- “Tế bào mầm” và khả năng sử dụng cho T-Learning: Học tập qua trải nghiệm thực tiễn trồng và bảo vệ rừng; Đưa vào chương trình dạy và học cho học sinh, các trường dạy nghề của địa phương.

- Lý giải: Nước biển dâng do tác động của BĐKH gây sạt lở nghiêm trọng ở các khu vực ven biển. Tỉnh Kiên Giang có hơn 200 km đường bờ biển trong đó khoảng 50% đường bờ biển đang bị sạt lở. Ở một số khu vực tốc độ sạt lở lên đến 50m/năm. Điều này cho thấy người dân và cộng đồng ven biển đang đứng trước các rủi ro cao. Rừng ngập mặn có vai trò quan trọng bảo vệ vùng ven biển. Rừng ngập mặn là rào chắn hiệu quả các đợt sóng đánh vào bờ và dòng chảy ngoài khơi. Trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2012, được sự hỗ trợ của dự án GIZ, Kiên Giang đã tổ chức trồng phục hồi ở một số đoạn đê biển bị xói lở nghiêm trọng ở khu vực ấp Vàm Rầy (Bình Giang, huyện Hòn Đất). Kết quả của mô hình: diện tích và chất lượng rừng ngập mặn được cải thiện giúp bảo vệ cộng đồng ven biển trước thiên tai và tác động của BĐKH. Không những thế, rừng ngập mặn còn đóng vai trò là bể chứa cacbon giúp giảm nhẹ BĐKH. Các cây ngập mặn trồng thêm cũng đã tạo ra được những tác động tích cực, giúp ổn định vùng bãi bồi và biến chúng trở thành vùng rừng đa mục đích. Qua ba năm thực hiện mô hình, diện tích và chất lượng rừng của vùng ven biển ấp Vàm Rầy đã được cải thiện và mở rộng góp phần không nhỏ vào việc tăng cường khả năng thích ứng của cộng đồng trước thiên tai, bão lũ ngày càng bất thường và khắc nghiệt nhờ tác dụng giảm sóng, gió và bảo vệ đê biển hiệu quả. Mặt khác khi rừng ngập mặn được khôi phục thì rừng ngập mặn cũng là nơi sinh đẻ, nuôi dưỡng con non của các loài hải sản, đây cũng chính là nguồn thu nhập được tăng lên cho các hộ dân ven biển. Như vậy đây chính là ví dụ điển hình về mối qua hệ giữa BĐKH và đa dạng sinh học.

Ngoài ra thông qua các hoạt động của mô hình, các vườn ươm cây đước và cây mắm các loại, cũng được xây dựng và đi vào hoạt động một cách hiệu quả góp phần giúp địa phương chủ động nguồn cây giống, đồng thời giúp tăng thêm thu nhập cho người dân.

3.2.2 Mô hình trồng rừng kết hợp với nuôi trồng thủy sản

- Các mối quan hệ: Thực phẩm-Năng lượng và BĐKH.

- “Tế bào mầm” và khả năng sử dụng cho T-Learning: Học tập qua trải nghiệm thực tiễn nuôi cua biển quy mô hộ gia đình; Đưa vào chương trình dạy và học cho học sinh phổ thông, các trường dạy nghề của địa phương.

- Lý giải: Hầu hết các cư dân vùng ven biển đều nghèo do cuộc sống phụ thuộc vào nguồn lợi thiên nhiên, nguồn thu nhập từ hải sản đánh bắt nhằm duy trì lương thực, thực phẩm và năng lượng cho đời sống của cả hộ gia đình trong bối cảnh BĐKH, thời tiết bất thường, thiên tai, bão lụt và nước biển dâng ngày càng thường xuyên đều tác động lên nguồn lợi thủy sản, tác động lên sinh kế của người dân kể cả nguồn thực phẩm và năng lượng. Hoạt động trồng rừng kết hợp với nuôi trồng thủy sản sẽ tạo sinh kế bền vững cho người dân và tạo nên khả năng thích ứng cao với BĐKH. Những kinh nghiệm thành công cũng như thất bại của các mô hình nuôi thủy sản hộ gia đình sẽ là những tế bào mầm (germ cell) cho học tập trải nghiệm trong các trường phổ thông và dạy nghề ở địa phương.


Hình 3: Nuôi sò huyết kết hợp trồng RNM

3.1.3 Thay đổi phương thức và đa dạng sinh kế để thích ứng BĐKH

- Các mối quan hệ: Thực phẩm-Năng lượng và BĐKH.

- “Tế bào mầm” và khả năng sử dụng cho T-learning: Học tập qua trải nghiệm thực tiễn nuôi cua biển qui mô hộ gia đình; Đưa vào chương trình dạy và học cho học sinh phổ thông, các trường dạy nghề của địa phương.

- Lý giải: Trồng khoai lang ở huyện Hòn Đất, trồng giống lúa mới thích nghi với nước mặn, nuôi cá, nuôi rắn, nuôi sò, nuôi sò huyết, nuôi cua trong đầm, trồng và khai thác Kỳ Nam làm thuốc, tất cả các mô hình này đều nhằm mục đích tạo sinh kế bền vững cho người dân địa phương, giảm sự phụ thuộc vào tài nguyên rừng và thủy sản, thích ứng với hậu quả của BĐKH và làm rõ mối quan hệ phức tạp giữa lương thực - năng lượng - BĐKH. Đây cũng sẽ là những tế bào mầm cho việc triển khai học tập chuyển đổi trong bối cảnh địa phương và cả nước nói chung.

IV. KẾT LUẬN

- Người dân ở Khu DTSQKG nói chung sống chủ yếu bằng sinh kế nông nghiệp, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và sinh thái, nhất là khí hậu và thủy văn của vùng châu thổ. Trong những năm gần đây, BĐKH gia tăng và đã tác động mạnh mẽ tới các khu vực nghiên cứu – một hệ sinh thái – xã hội điển hình, gây ảnh hưởng lớn tới tài nguyên nước và khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, nhất là trồng lúa (vấn đề an ninh lương thực), sản xuất cây trái và nuôi trồng thủy sản.

- Trong thực tế đó, người dân ở Khu DTSQKG rất chủ động thích ứng với những điều kiện thay đổi, học hỏi và chia sẻ các thông tin từ các nguồn khác nhau (các cơ quan nghiên cứu, đào tạo) các vùng miền khác, thậm chí ở nước ngoài hình thành nên các mầm mống T-Learning để xây dựng các mô hình sinh kế thích ứng. Các mô hình này đều liên quan ở những mức độ khác nhau tới bốn yếu tố chịu tác động mạnh mẽ nhất của BĐKH là Lương thực, Nước, Năng lượng và Công bằng xã hội.

- Sự hình thành và phát triển của các mầm mống T-Learning có sự thay đổi theo thời gian và không gian trong sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau: Thể chế (chính quyền), sự hỗ trợ của các tổ chức đoàn thể, các cơ quan khoa học và giáo dục (Viện, Trường), các tổ chức hỗ trợ phát triển, doanh nghiệp v.v. Theo đó, mối liên kết nhiều chiều (nexus) giữa các yếu tố này là rất đa dạng, có sự thay đổi về số lượng và chất lượng giữa các cấp quản lý, theo không gian và thời gian. Yếu tố quan trọng nhất cho sự hình thành và phát triển của các mầm mống T-Learning là phải xuất phát từ nhu cầu thực tế cuộc sống của chính người dân và đem lại lợi ích thiết thực cho họ. Các tác nhân khác có vai trò nhất định trong việc tạo nên tiềm năng phát triển lâu bền của các mô hình T-Learning./.

TS. Nguyễn Xuân Niệm, KS. Nguyễn Thanh Hải và ThS. Lý Minh Tài
Thư viện ảnh
Hoạt động thể thao
Video
Web liên kết
Quảng cáo