Hiệu quả kỹ thuật san mặt ruộng điều khiển bằng tia laser trong mô hình “1 Phải 5 giảm” A A

13/11/2018
Nguyễn Thị Kiều và Trần Thị Kim Thúy (Sở Nông nghiệp & PTNT TP Cần Thơ)

GIỚI THIỆU

Thành phố Cần Thơ với diện tích sản xuất nông nghiệp 115 432 ha; trong đó gần 89 000 ha canh tác lúa. Với hệ số sử dụng đất gần 2,5 hằng năm, nông dân thành phố gieo trồng lúa khoảng 228 000 ha, sản lượng 1,1 - 1,2 triệu tấn/năm. Riêng năm 2012, với 228 162 ha lúa, sản lượng đạt kỷ lục 1,319 triệu tấn. Trong đó, trên 80% lúa chất lượng cao, đặc biệt là các giống lúa thơm đặc sản như Jasmine 85, VD20,...

Trước tốc độ đô thị hóa, diện tích sản xuất nông nghiệp giảm liên tục từ năm 2004 đến nay, dự kiến đến 2020 diện tích đất nông nghiệp chỉ còn 107 000 ha; Thành phố Cần Thơ định hướng sản xuất lúa theo hướng bền vững, ứng dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật, thành tựu công nghệ cao, cơ giới hóa, hiện đại hóa để xây dựng vùng lúa nguyên liệu chất lượng cao, quy mô lớn, chuyển đổi mục tiêu sản xuất từ số lượng sang chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, an toàn theo hướng GAP, nhằm nâng cao giá trị sản phẩm gắn kết tiêu thụ, tăng lợi thế cạnh tranh.

Những năm qua, ngành Nông nghiệp thành phố đã triển khai nhiều chương trình, dự án nhằm định hướng giúp nông dân sản xuất theo hướng bền vững, ứng dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất và chất lượng, cải thiện thu nhập nông dân. Theo đó, chương trình Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) được triển khai rộng rãi, tổ chức 1 083 lớp huấn luyện với 33 180 nông dân tham dự (tính từ năm 2005), phủ đều khắp 100% xã có trồng lúa với 30-35% hộ nông dân được tập huấn.

Chương trình “3 Giảm 3 Tăng”, “1 Phải 5 Giảm” giúp nông dân tăng hiệu quả kinh tế rõ rệt, đến nay đã có trên 80% nông dân sử dụng giống xác nhận.

Tuy nhiên, trong sản xuất lúa vẫn còn tồn tại một số khó khăn ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế, thiếu khả năng cạnh tranh. Hệ thống thủy lợi đê bao hiện nay đã khép kín, chủ động tưới tiêu cho trên 80% diện tích đất lúa; nhưng một số nơi đã xuống cấp, hệ thống thủy lợi nội đồng chưa hoàn thiện và đồng bộ, mặt ruộng không bằng phẳng, là rào cản trong việc ứng dụng các giải pháp kỹ thuật làm hao hụt giống, thất thoát phân bón, khó khăn trong tiết kiệm nước,...

Bên cạnh đó, phần lớn hộ nông dân sản xuất cá thể nhỏ lẻ, tự phát nên rất khó khăn khi triển khai mô hình sản xuất ứng dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật.Việc sản xuất lúa tập trung với quy mô lớn, cải thiện mặt bằng đồng ruộng bằng kỹ thuật laser được quan tâm nghiên cứu, tạo điều kiện điện thuận lợi cho việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật “1phải 5 giảm” trong sản xuất lúa, giúp giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập cho người nông dân.

MỤC TIÊU

So sánh hiệu quả kỹ thuật và kinh tế của mô hình canh tác lúa ứng dụng kỹ thuật “1 Phải 5 Giảm” trong điều kiện mặt ruộng được san phẳng mặt ruộng bằng tia laser và làm đất bình thường theo tập quán của nông dân.

PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

Địa điểm: Ấp D2-Thạnh Lợi-Vĩnh Thạnh-Tp.Cần Thơ

Thời gian gieo sạ: 05/03/2013 (vụ Hè Thu 2013)

Giống lúa: OM 2517

Phương pháp bố trí thí nghiệm như sau:

-  Quy mô và phương pháp bố trí: Khảo nghiệm diện rộng, bố trí ngẫu nhiên.

-  Diện tích lô khảo nghiệm: 5.000m2.

-  Nghiệm thức: Gồm 3 nghiệm thức.

Nghiệm thức I: Sản xuất lúa ứng dụng kỹ thuật “1 Phải 5 Giảm” trong điều kiện có san phẳng mặt ruộng bằng tia aser thực hiện tại hộ ông Phạm Minh Được.

Nghiệm thức II: Sản xuất lúa ứng dụng kỹ thuật “1 Phải 5 Giảm” trong điều kiện làm đất theo tập quán của nông dân (không san laser) thực hiện tại hộ Trần Ngọc Thái.

Nghiệm thức III: Sản xuất lúa hoàn toàn theo tập quán của nông dân thực hiện tại hô ông Phùng Khắc Tuấn.

CHỈ TIÊU THEO DÕI VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ MÔ HÌNH

4.1. Chỉ tiêu về sinh trưởng phát triển của cây lúa: Chiều cao cây, số chồi/m2, được tiến hành điều tra vào các giai đoạn mạ, đẻ nhánh và trổ.

*   Chiều cao cây (cm): Mỗi Ô đo chiều cao 20 cây lúa ngẫu nhiên theo 2 đường chéo góc, đo cây cao nhất của khóm lúa (dảnh chính); tính chiều cao trung bình/cây.

*   Số chồi/m2: Điều tra trên khung cố định 40 x 50m2, điều tra 05 khung, tại mỗi khung đếm tổng số chồi, sau đó tính số chồi/m2.

4.2. Ghi nhận tình hình sâu bệnh hại và thiên địch xuất hiện trên các ruộng thực hiện khảo nghiệm.

4.3. So sánh năng suất, hiệu quả kinh tế giữa các nghiệm thức khảo nghiệm.

*   Năng suất: Mỗi nghiệm thực gặt 5 khung x 10 m2/khung; tuốt hạt, phơi khô, cân trọng lượng quy về ẩm độ 14%; tính năng suất thực tế (tấn/ha).

*   So sánh hiệu quả kinh tế (đồng/ha) giữa các ruộng thực nghiệm. Ghi nhận tất cả các chi phí đầu tư giữa các ruộng.

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Tình hình chung về ruộng thí nghiệm

Kết quả trình bày (Bảng 1) cho thấy rằng trong ba nghiệm thức đều gieo sạ cùng một loại giống, sạ cùng một ngày, nhưng mật độ sạ và công thức sử dụng phân bón có khác nhau giữa các nghiệm thức cụ thể ở Nghiệm thức I mật độ sạ và công thức phân bón thấp hơn so với Nghiệm thức II và Nghiệm thức III.

Bảng 1: Thông tin chung về ruộng thực nghiệm 

Nghiệm thức

Giống lúa

Ngày sạ

Mật độ sạ

Công thức

 

 

(kg/ha)

phân bón

 

 

 

 

 

 

 

NT 1

OM 2517

05/3/2013

120

79-46-40

 

 

NT 2

OM 2517

05/3/2013

130

90-53-51

 

 

NT 3

OM 2517

05/3/2013

169

105-69-72

 

 

Sinh trưởng và phát triển của cây lúa giữa các nghiệm thức ở các giai đoạn mạ, đẻ nhánh và trổ

Qua kết quả trình bày (Bảng 2 và Hình 1) cho thấy, chiều cao cây lúa tăng dần từ Nghiệm thức I đến Nghiệm thức III (trong cả ba giai đoạn mạ, đẻ nhánh và trổ) tỷ lệ thuận với mật độ gieo sạ. Sạ dày làm cạnh tranh ánh sáng nên cây lúa có khuynh hướng gia tăng chiều cao. Bên cạnh đó, việc bón phân tại Nghiệm thức III cao hơn so với các Nghiệm thức I và 2.

Trong điều kiện thuận lợi, đầy đủ dinh dưỡng và ánh sáng cây lúa thường bắt đầu nhảy chồi đầu tiên ở mắt thứ 2, đồng thời với lá thứ năm trên thân chính. Sau đó cứ ra thêm một lá mới thì các chồi tương ứng xuất hiện. Ở lúa cấy thì khoảng 10-30 chồi có thể được sinh ra trong điều kiện thích hợp, nhưng chỉ có 2-5 chồi có thể được hình thành trong lúa sạ thẳng. Những giống nào đẻ nhánh nhiều thường tỷ lệ chồi hữu hiệu thấp.

Qua kết quả trình bày ở Hình 2 cho thấy rằng, giai đoạn mạ, số chồi giữa các nghiệm thức biến thiên từ 464- 536 chồi, cao nhất là Nghiệm thức III và thấp nhất là Nghiệm thức I. Ở giai đoạn đẻ nhánh, số chồi giữa các nghiệm thức giống như giai đoạn mạ. Nhưng ở giai đoạn trổ, thì Nghiệm thức II có số chồi cao nhất là 586 chồi, Nghiệm thức I và Nghiệm thức III có số chồi từ 560- 562 chồi.

Bảng 2: Diễn biến chiều cao (cm) cây lúa giữa các nghiệm thức 

Nghiệm thức

Mạ

Đẻ nhánh

Trổ

NT 1

7

49

89

NT 2

8

50

89

NT 3

8

52

90

TB

7,7

50,3

89,3

  


 Hình 1: Diễn biến chiều cao cây lúa giữa các nghiệm thức



Hình 2: Diễn biến số chồi (chồi) giữa các nghiệm thức

Diễn biến sâu bệnh giữa các nghiệm thức xuất hiện vào giai đoạn mạ, đẻ nhánh và trổ

Kết quả trình bày Hình 3 cho thấy, ở giai đoạn mạ, mật số rầy nâu ở ba nghiệm thức đều không cao có mật số biến thiên từ 25-68 con/m2. Ở giai đoạn đẻ nhánh và giai đoạn trổ, ở Nghiệm thức I và Nghiệm thức II mật số rầy tương đương nhau, giai đoạn đẻ nhánh có mật số từ 321-426 con/m2, còn ở giai đoạn trổ mật số biến thiên từ 112-165 con/m2. Do sạ dày, bón thừa phân đạm nên Nghiệm thức III xuất hiện mật số rầy cao ở giai đoạn đẻ nhánh là 890 con/m2, tích lũy sang giai đoạn trổ đạt 1950 con/m2.

So sánh hiệu quả bơm tưới nước giữa các nghiệm thức

Qua kết quả Bảng 3 cho thấy, tổng số giờ bơm nước/vụ của Nghiệm thức I là 16giờ50’/vụ/ha, Nghiệm thức II là 20giờ10’/vụ/ha, cao nhất là Nghiệm thức III thời gian bơm nước là 29giờ/vụ/ha. Từ đó cho thấy chi phí bơm nước có sự khác biệt giữa các nghiệm thức, Nghiệm thức I thấp nhất: 840.000 đồng/vụ, Nghiệm thức II: 1.008.300 đồng/vụ, và Nghiệm thức III cao nhất: 1.460.000 đồng/vụ.

So sánh năng suất lúa (tấn/ha), hiệu quả kinh tế giữa các nghiệm thức khảo nghiệm

Qua kết quả trình bày Bảng 4 cho thấy, hiệu quả kinh tế của Nghiệm thức I là cao nhất, kế đó Nghiệm thức II và cuối cùng là Nghiệm thức III, với lợi nhuận đạt được tương ứng là 12.744.667 đồng/ha, 11.145.000 đồng và 6.178.000 đồng/ha. Ngược lại chi phí sản xuất của Nghiệm thức I là thấp nhất, kế đó là Nghiệm thức II và sau cùng là Nghiệm thức III với tổng chi phí tương ứng là 15.659.333 đồng/ha, 16.611.000 đồng/ha và 20.606.000 đồng/ha, chủ yếu nhờ giảm mật độ sạ, phân bón, số lần phun thuốc BVTV và bơm nước.

Năng suất đạt được của Nghiệm thức I và Nghiệm thức II đều cao hơn Nghiệm thức III.

 Bảng 3: So sánh hiệu quả bơm tưới nước giữa các nghiệm thức

Lần bơm

 

Số giờ bơm nước

 

nước/vụ/ha

NT 1

NT 2

NT 3

 

 

 

 

1

3g50

4g00

4g50

2

4g00

4g00

4g00

3

4g00

4g30

4g50

4

5g00

4g50

4g50

5

 

2g50

3g40

6

 

 

3g00

7

 

 

4g00

 

Tổng cộng

16g50

20g10

29g10

 

 

 

 

 

 

Chênh lệch so với

 

 

 

 

Nghiệm thức I:

 

 

 

 

- Số lần bơm

-

1

3

 

- Số giờ bơm

-

3g20

12g20

 

 

 

 

 

 

 *Ghi chú: Chi phí bơm nước là 50.000 đồng/giờ bao gồm (22.000 đồng 1 lít dầu/giờ và 28.000 đồng tiền công bơm/giờ).

Hình 3: Đo đạc cao độ để tính khối lượng đất đào-đắp khi san laser

Bảng 4: So sánh năng suất lúa (tấn/ha), hiệu quả kinh tế (đồng/ha) giữa các nghiệm thức khảo nghiệm.

Hạng mục

ĐVT

NT 1

NT 2

NT 3

Mật độ sạ

Kg

120

130

169

Phân bón Ure (N)

Kg

79

90

105

Số lần phun thuốc BVTV

Lần

4

4

6

Sồ lần phun thuốc trừ cỏ

Lần

1

1

2

Sồ lần bơm nước

Lần

4

5

7

Chi phí giống

Đồng

1.740.000

1.885.000

2.451.000

Chi phí phân bón

Đồng

3.727.000

4.346.000

5.473.000

Chi phí thuốc BVTV

Đồng

2.689.000

2.865.000

4.847.000

Thuốc cỏ

Đồng

186.000

186.000

245.000

Thuốc sâu

Đồng

960.000

1.080.000

2.216.000

Thuốc bệnh

Đồng

1.313.000

1.359.000

2.259.000

Thuốc khác

Đồng

230.000

240.000

270.000

Chi phí khác (bơm nước, gặt..)

Đồng

7.503.333

7.515.000

7.835.000

Chi phí làm đất

Đồng

1.933.000

1.800.000

2.100.000

Chi phí trang bằng mặt ruộng

Đồng

500.000

0

0

Chi phí bơm nước

Đồng

840.000

1.008.300

1.460.000

Tổng chi

Đồng

15.659.333

16.611.000

20.606.000

Năng suất

Kg

5.260

5.140

4.960

Giá bán

Đồng

5.400

5.400

5.400

Tổng thu

Đồng

28.404.000

27.756.000

26.784.000

Lợi nhuận

Đồng

12.744.667

11.145.000

6.178.000

 

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

-   San bằng mặt ruộng bằng tia laser giúp giảm từ 1-3 lần bơm tưới so với không thực hiện san bằng mặt ruộng bằng laser trong mô hình 1 phải 5 giảm và tập quán nông dân. Tương tự, thời gian bơm tưới cũng ngắn hơn lần lượt là 3g20’ và 12g20’.

Ứng dụng kỹ thuật "1 Phải 5 Giảm" trong điều kiện san phẳng mặt ruộng bằng tia laser cho hiệu quả kinh tế cao nhất. Kế đó là mô hình sản xuất lúa ứng dụng kỹ thuật "1 Phải 5 Giảm" trong điều kiện làm đất theo tập quán của nông dân. Sau cùng là mô hình sản xuất lúa theo tập quán của nông dân.

-     Đề nghị cần thực hiện thêm nhiều điểm trình diễn để có kết quả chính xác hơn.

Xuân Niệm - Tú Vân (Nguồn: Sở Nông nghiệp & PTNT Tp Cần Thơ)
Thư viện ảnh
Hoạt động thể thao
Video
Web liên kết
Quảng cáo